chia thừa kế theo di chúc
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, chia thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp sau đây: - Không có di chúc; - Di chúc không hợp pháp; - Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức
Trường hợp này áp dụng đối với phần di chúc bị vô hiệu và thừa kế không có di chúc, cụ thể: “1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, 5 người sau đây không được quyền hưởng di sản, cũng như quyền thừa kế nhà đất. Trường hợp tranh chấp đất đai gần đây được bàn luận, ông ngoại một người có 01 thửa đất và 01 căn nhà. Ông ngoại có hai người con là […]
Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Theo quy định này, người thừa kế có quyền yêu cầu chia thừa kế với tài sản là bất động sản trong thời hạn 30 năm; với tài sản là động sản trong thời gian 10 năm kể từ khi người để
Di tặng. Một số quy định về chia thừa kế theo di chúc (Ảnh minh họa) 1. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo
I. Cách phân chia di sản thừa kế theo di chúc: Về nguyên tắc, khi chủ sở hữu tài sản để lại di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết thì việc phân chia tài sản phải tuân theo ý nguyện của Chủ sở hữu tài sản trong di chúc. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều
Vay Tiền Cấp Tốc Online. Một số quy định về chia thừa kế theo di chúc Ảnh minh họa 1. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó - Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; - Con thành niên mà không có khả năng lao động. Lưu ý Quy định trên không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015. Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 2. Hiệu lực của di chúc - Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. - Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây + Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; + Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực. - Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. - Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. - Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 3. Di sản dùng vào việc thờ cúng - Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. - Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 4. Di tặng - Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. - Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. - Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. Điều 646 Bộ luật Dân sự 2015 >>> Xem thêm Di chúc được hiểu như thế nào? Khi nào di chúc có hiệu lực? Trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước người lập di chúc thì giải quyết như thế nào? Vợ không có tên trong di chúc của chồng thì có cách nào nhận thừa kế của chồng hay không? Mức thừa kế là bao nhiêu? Chia thừa kế trong trường hợp tài sản của 3 người cùng đứng tên chung, nhưng có một người không may qua đời như thế nào? Diễm My Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info
Thừa kế được hiểu là sự chuyển giao di sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có 2 trường hợp thừa kế đó là 1 Thừa kế theo pháp luật; 2 Thừa kế theo di chúc. Vậy, thừa kế trong mỗi trường hợp này khác nhau như thế nào? Mời các bạn cùng theo dõi bảng phân biệt dưới đây TIÊU CHÍ THỪA KẾ THEO DI CHÚC THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT Khái niệm Thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Trường hợp áp dụng Được áp dụng khi cá nhân trước khi mất có lập di chúc hợp pháp kể từ thời điểm mở thừa kế Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này. Theo đó, sẽ áp dụng theo ý chí, nguyện vọng của người lập di chúc. Được áp dụng trong trường hợp sau đây - Không có di chúc; - Di chúc không hợp pháp; - Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; - Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. - Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; - Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; - Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người lập di chúc - Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép. - Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Pháp luật quy định về các vấn đề liên quan đến thừa kế người thừa kế theo pháp luật, cách chia thừa kế,… khi người chết không để lại di chúc hoặc những trường hợp khác mà di chúc không thể được tiến hành. Người thừa kế Bất kỳ chủ thể nào mà người lập di chúc có ý nguyện để đinh đoạt di sản của mình cho chủ thể đó. TRỪ trường hợp thuộc những người không được quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;….. Tuy nhiên, trong trường hợp nếu cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên; con đã thành niên mà không có khả năng lao động nếu không có tên trong di chúc thì vẫn được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 một suất thừa kế. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây - Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; - Hàng thừa kế thứ hai gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; - Hàng thừa kế thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Hình thức Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa các đồng thừa kế theo quy địn. Trường hợp không thống nhất thỏa thuận mà xảy ra tranh chấp sẽ thực hiện theo bản án/quyết định của Tòa án. Thừa kế thế vị Không quy định Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Cách phân chia di sản - Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. - Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. -Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản. - Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. - Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng. - Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia. Trách nhiệm của người nhận thừa kế Về nguyên tắc chung thì trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Tuy nhiên,đối với thừa kế theo di chúc có một trường hợp ngoại lệ, đó là đối với trường hợp di tặng thì Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. Căn cứ pháp lý Bộ luật dân sự 2015
Tổng hợp 25 bài tập tình huống về thừa kế có đáp án – Phần 1 – thường gặp nhất trong các đề thi Luật dân sự để các bạn tham khảo ôn tập. Lưu ý Trước khi tham khảo các bài tập tình huống dưới đây, các bạn nên đọc qua bài viết Cách làm bài tập chia thừa kế và một số tình huống áp dụng để nắm rõ nguyên tắc áp dụng. Tình huống 1 Người cha mất để lại di chúc ủy quyền nhờ cơ quan pháp chứng phân chia tài sản. Người con và mẹ nghĩ rằng họ sẽ nhận được tài sản thì xuất hiện một đứa con riêng của người chồng và di chúc cũng phân chia tài sản cho người con. Hỏi nếu ông để lại di chúc cho người con riêng mà 2 người kia trước đó không biết này mà không để lại cho 2 mẹ con thì 2 mẹ con có quyền được hưởng không, hình như có Điều luật nào đó quy định là người mẹ có quyền nhận không phụ thuộc vào di chúc người con không được nhận này đã trên 18 tuổi Hỏi thêm người con riêng này có ngang hàng với 2 mẹ con khi chia di sản không? Đáp án tham khảo Theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó a Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; b Con thành niên mà không có khả năng lao động. 2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này. Vì vậy nếu người cha mất thì người vợ vẫn được hưởng theo quy định của người kia, còn người con đã thành niên và không thuộc khoản 2 Điều 644 thì không được hưởng vì người cha trong di chúc không cho người con hưởng. Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì người con riêng có quyền đứng ngang hàng thừa kế đối với việc phân chia di sản của người cha để lai. Hình minh họa. Tổng hợp 25 bài tập chia thừa kế [có đáp án] – P1 Tình huống 2 Ông Khải và Bà Ba kết hôn với nhau năm 1947 và có 3 con là anh Hải, anh Dũng, chị Ngân. Chị Ngân kết hôn với anh Hiếu và có con chung là Hạnh. Năm 2018, Ông Khải chết có để lại di chúc cho con gái và cháu ngoại được hưởng toàn bộ di sản của ông trong khối tài sản chung của ông và bà Ba. Một năm sau bà Ba cũng chết và để lại toàn bộ di sản cho chồng, các con người em ruột của chồng tên Lương. Năm 2009, anh Dũng chết do bệnh nặng và có di chúc để lại tất cả cho anh ruột là Hải. Sau khi Dũng chết thì những người trong gia đình tranh chấp về việc phân chia di sản. Hãy giải quyết việc tranh chấp, biết rằng bà Ba và ông Khải không còn người thân thích nào khác, anh Hải có lập văn từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh dũng theo đúng quy định của pháp luật, chị Ngân cũng từ chối hưởng di sản của anh Dũng, tài sản chung của ông Khải và bà Ba cho đến thời điểm ông Khải chết là sau khi ông Khải chết, bà Ba còn tạo lập một căn nhà trị giá 300 triệu. Đáp án tham khảo Tình huống của bạn có vài chỗ không ổn, này nhé – Thứ nhất, anh Dũng di chúc toàn bộ tài sản lại cho anh Hải, vậy có nghĩa là không có tên chị Ngân trong di chúc của anh Hải, vậy tại sao lại có chj chị Ngân từ chối hưởng tài sản anh Dũng để lại? – Thứ hai, “các con người em ruột của chồng tên Lương”, chỗ này bạn viết như thế người đọc dễ hiểu nhầm, theo P hiểu thì đó là các con của bà Ba và người em ruột của chồng tên là Lương. Rắc rối nhỉ. Theo P, khi ông Khải chết đã di chúc lại toàn bộ tài sản của mình trong khối tài sản chung của 2 ông bà cho con gái và cháu ngoại, như vậy một số tài sản của ông Khải tạm xác định là 1/2×1,2t tỷ sẽ được chia đều cho con gái vá cháu ngoại, mỗi người 300 triệu. Vậy, sau khi thực hiện di chúc của ông Khải, số tiền còn lại thuộc tài sản của bà Ba là 600 + 300 = 900 triệu. Bà Ba chết để lại tài sản cho các con và người em ruột của chồng là Lương tổng cộng 4 người, vậy số tiền 900 triệu sẽ được chia đều tiếp cho 4 người, mỗi người 225 triệu. Anh Dũng thừa kế từ bà Ba 225 triệu, sau khi anh chết, di chúc toàn bộ tài sản này cho anh Hải, vậy anh Hải được hưởng thêm số tài sản này. Do anh Hải từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh Dũng, nên còn dư ra 500 triệu. 500 Triệu này theo P sẽ được chia tiếp theo pháp luật, theo hàng thừa kế thứ nhất gồm chị Ngân, vợ con anh Hải nếu có Tình huống 3 Ông A, bà B có con chung là C, D đều đã thành niên và có khả năng lao động. C có vợ là M có con X,Y. D có chồng là N có một con là K. Di sản của A là 900 triệu. Chia thừa kế trong các trường hợp riêng biệt sau 1. C chết trước A. A di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho X. 2. C chết trước A. D chết sau A chưa kịp nhận di sản 3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản Đáp án tham khảo Di sản ông A để lại là 900 triệu. Trường hợp 1. C chết trước A. A di chúc để lại toàn bộ di sản cho X. A làm di chúc để lại toàn bộ di sản cho X. Tuy nhiên, bà B vợ ông A là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Điều 644 BLDS 2015. Theo đó, bà B phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật là 200 triệu. Theo đó, bà B sẽ được hưởng 200 triệu và phần còn lại sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc X được hưởng thừa kế của ông A là 700 triệu. Trường hợp 2. C chết trước A, D chết sau A. A chết không để lại di chúc. A chết không để lại di chúc thì di sản của A sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B, D, C là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của A Điều 651 BLDS 2015 nên mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau là 300 triệu. Do C chết trước A nên con của C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C theo Điều 652 BLDS 2015. D chết sau A, nếu A để lại di chúc thì sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc. Còn nếu A chết không để lại di chúc hoặc phần tài sản mà D được nhận từ di sản của ông A không được định đoạt trong di chúc thì di sản A để lại sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B mẹ D, anh N chồng D, K con D sẽ được chia theo pháp luật mỗi người một phần bằng nhau. Trường hợp 3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản. Ông A chết cùng thời điểm với anh C nên ông A sẽ không được hưởng thừa kế từ di sản của anh C để lại theo Điều 619 BLDS 2015. Ông A chết để lại di chúc cho K hưởng ½ di sản của ông. Theo đó, K được thừa kế 450 triệu của ông A. Phần di sản không được ông A định đoạt trong di chúc 450 triệu được chia theo pháp luật điều 650, 651 BLDS 2015. Theo đó, phần di sản này sẽ được chia cho bà B = C = D = 150 triệu. Anh C đã chết nên con anh C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị phần của anh C. Khi chia thừa kế trong trường hợp này, bà B là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 BLDS 2015. Phần di sản không được ông A định đoạt trong di chúc khi chia theo pháp luật không đảm bảo cho bảo cho bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần thiếu 50 triệu sẽ được lấy từ phần mà K được hưởng theo nội dung di chúc. Tình huống 4 Năm 1950, Ô A kết hôn với bà B. Ô bà sinh được 2 người con gái là chị X 1953 & chị Y 1954. Sau một thời gian chung sống, giữa Ô A & bà B phát sinh mâu thuẫn, năm 1959 Ô A chung sống như vợ chồng với bà C. A & C sinh được anh T 1960 & chị Q 1963. Tháng 8/1979, X kết hôn với K, anh chị sinh được 2 con là M & N 1979-sinh đôi. Năm 1990, trên đường về quê chị X bị tai nạn chết. Năm 1993, Ô A mắc bệnh hiểm nghèo & đã qua đời. Trước khi chết, Ô A có để lại bản di chúc với nội dung cho anh T thừa hưởng toàn bộ tài sản do ông A để lại. không đồng ý với bản di chúc đó, chị Y đã yêu cầu tòa án chia lại di sản của bố mình. Qua điều tra tòa án xác định khối tài sản của Ô A và bà B là 500 triệu đồng. Hãy xác định hàng thừa kế đối với những người được hưởng di sản thừa kế của chị X & Ô A? Đáp án tham khảo Theo dữ kiện bài ta thấy năm 1959 ông A chung sống như vợ, chống với bà C thì việc này pháp luật vẫn thừa nhận ông A và bà C là vợ chồng hợp pháp. Năm 1990, chị X chết nhưng đề bài không nói tài sản của chị X là bao nhiêu nên ta xem bằng 0. Năm 1993 ông A mất và có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho anh T. Tài sản của ông A và bà B có được là 500 triệu Tài sản của ông A và bà C đề bài không nêu nên ta xem như bằng 0. Di sản của ông A là 500/2 = 250 triệu. 250 triệu chính là giá trị tài sản mà ông A có quyền định đoạt. Tài sản của anh T được hưởng là 250. Tuy nhiên theo quy định pháp luật thì những người sau đây được hưởng thừa kế gồm bà B và bà C mỗi người được hưởng 2/3 giá trị của một suất chia theo pháp luật. Người được hưởng thừa kế chia theo pháp luật gồm bà B, bà C, anh T, Q, X, Y 250/6 = 41,6 triệu. Như vậy Bà B = bà C = 2/3 250/6 = 27,7 triệu. Tài sản của anh T còn lại là 250 – 27,7×2 = 194,6 triệu. Các trường hợp còn lại không được hưởng vì X đã mất, Y, Q đã thành niên và không bị mất năng lực hành vi. Tình huống 5 Ô A kết hôn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để lại 2 con 1 trai & 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà 1 ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi chết Ô A lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Biết đứa con trai út của Ô bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên. Sau đó anh con trai út này đã bị tai nạn & bị tâm thần. Anh chị hãy chia tài sản của ông A? Đáp án tham khảo Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300 triệu. Di sản của ông A là 300/2 = 150 triệu. Ông A để lại cho bà B 100 triệu. Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150 – 100 = 50 triệu. Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người con; do anh con cả mất nên theo Điều 652 BLDS 2015 thì 02 con của anh cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị. Mỗi người được hưởng là 50/6 = 8,33 Mỗi người con của anh cả là 8,33/2 = 4,165. Tình huống 6 Ông thịnh đã ly hôn với vợ và có 2 người con riêng là Hòa và Nguyệt chồng chết có 2 người con riên là Xuân và Hạ. Năm 1993 ông thịnh kết hôn với bà Nguyệt và sinh được 2 người con là Tuyết và Lê. Để tránh sự bất hòa giữa mẹ kế và con chồng, ông Thịnh cùng bà Nguyệt mua một căn nhà để bà Nguyệt cùng các con là Xuân, Hạ, Tuyết, Lê ở riêng. Trong quá trình chung sống, ông Thịnh thương yêu Xuân và Hạ như con ruột, nuôi dưỡng và cho 2 người ăn học đến lớn. Hòa kết hôn với Thuận có con là Thảo. Xuân kết hôn với Thu có con là Đông. Hòa bị tai nạn chết vào năm 2016. Ông thịnh bệnh chết vào năm 2017. Xuân cũng chết vào năm 2018. Sau khi ông thịnh qua đời gia đình mâu thuẫn và xảy ra tranh chấp về việc chia di sản của ông thịnh Qua điều tra được biết Ông thịnh có tài sản riêng là 220 triệu đồng. và có tài sản chung với bà nguyệt căn nhà bà nguyệt và các con đang sống trị giá 140tr và Thuận có tài sản chung là 120tr đồng. Xuân và thu có tài sản chung là 100tr. Hãy phân chia di sản của ông Thịnh. Đáp án tham khảo – Tổng tài sản của Hòa có 1202=60tr sẽ để lại cho Thịnh = mẹ của Hòa = Thuận = Thảo = 604 = 15tr mà bà mẹ kế là Nguyệt không được thừa kế vì theo Điều 654 BLDS 2015 chưa có quan hệ như mẹ con. – Thịnh xem con riêng của Nguyệt như con mình, chăm sóc, cho ăn học đây là mối quan hệ giữa con riêng với bố dượng theo Điều 654 BLDS 2015, thì Xuân và Hạ xem như trong hàng thừa kế thứ nhất. – Ông Thịnh không để lại di chúc. – Tổng tài sản ông Thịnh là 220 + 1402 + 15của Hòa = 305 triệu – Vậy những người thừa kế của ông Thịnh gồm 7 người Nguyệt = Xuân = Hạ = Tuyết = Lê = Hòa Thảo kế vị = Bình = 3057 = triệu. – Tổng tài sản Xuân có + 1002= sẽ để lại cho Nguyệt = Thu = Đông = = triệu. Tóm lại là Nguyệt = 1402 + + triệu Hạ = triệu Thu = 100 2+ triệu Đông = triệu Tuyết = triệu Lê = triệu Bình = triệu Thuận = 120 2 + 15 = 75 triệu Thảo = 15 + = triệu Mẹ của Hòa = 15 triệu Tình huống 7 Du và Miên là 2 vợ chồng, có 3 con chung là Hiếu – 1982, Thảo và Chi sinh đôi – 1994. Do bất hòa, Du và Miên đã ly thân, Hiểu ở với mẹ còn Thảo và Chi sống với bố. Hiếu là đứa con hư hỏng, đi làm có thu nhập cao nhưng luôn ngược đãi, hành hạ mẹ để đòi tiền ăn chơi, sau 1 lần gây thương tích nặng cho mẹ, hắn đã bị kết án. Năm 2007 Bà Miên mất, trước khi chết bà miên có để lại di chúc là cho trâm là e gái 1 nửa số tài sản của mình. Khối tài sản chung của Du và Miên là 790 triệu 1. Chia thừa kế trong tr hợp này 2. Giả sử cô Trâm khước từ nhận di sản thừa kế, di sản sẽ phân chia thế nào. Đáp án tham khảo Tài sản của bà miên = 790/2 = 395 triệu. Do Hiếu bị tước quyền thừa kế nên những người thừa kế theo pháp luật của bà Miên gồm ông Du, Thảo, Chi Chia theo di chúc Trâm = 395/2 = triệu còn lại là triệu không được định đoạt trong di chúc nên Chia theo pháp luật như sau Ông Du = Thảo = Chi = = triệu. Giả sử toàn bộ tài sản được chia theo pháp luật 1 suất thừa kế theo pháp luật = 395/3= triệu. 1 suất thừa kế bắt buộc là = * 2/3 = triệu. Vậy Ông Du = Thảo = Chi = triệu. Trâm = triệu. Nếu Trâm từ chối nhận tài sản thừa kế thì toàn bộ tài sản sẽ được chia theo pháp luật. Tình huống 8 A, B kết hôn năm 1950 có 4 con chung C,D,E,F. Vào năm 1957, A – T kết hôn có 3 con chung H,K,P. Năm 2017, A, C qua đời cùng thời điểm do tai nạn giao thông. Vào thời điểm C qua đời anh đã có vợ và 02 con G,N. Sau khi A qua đời để di chúc lại cho C ½ di sản, cho B,T mỗi người ¼ di sản. Sau khi A qua đời B kiện đến tòa xin được hưởng di sản của A. Tòa xác định tài sản chung A,B=720 triệu, A,T= 960 tr. Chia thừa kế trong trường hợp trên? Đáp án tham khảo Ông A mất năm 2017, di sản A để lại là 840 triệu trong đó 360 triệu trong khối tài sản chung với bà B + 480 triệu trong khối tài sản chung với bà T. Do cuộc hôn nhân của ông A với bà B, ông A với bà T được xác lập trước thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực 13/01/1960 ở miền Bắc, 25/03/1977 ở miền Nam nên việc có nhiều vợ, nhiều chồng không trái pháp luật được coi là hợp pháp. Ông A mất để lại di chúc cho C ½ di sản =420 triệu; B,T mỗi người ¼ di sản B=T= 210 triệu. Do C chết cùng thời điểm với A nên phần di chúc A để lại cho C không có hiệu lực pháp luật điều 643, 619 BLDS 2015 và được chia theo pháp luật điều 650 BLDS 2015. Theo đó, B, C, D, E, F, T, H, K, P là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A, mỗi người một phần bằng nhau là 52,5 triệu C đã mất nên con của C là G, N là người được hưởng thừa kế thế vị của C điều 652. Ông A chết cùng thời điểm với C nên ông A không được hưởng thừa kế của C điều 619 BLDS 2015. Nếu C chết không để lại di chúc thì di sản mà C để lại được chia theo pháp luật điều 650, 651 BLDS 2015. Xem thêm Tổng hợp 25 bài tập chia thừa kế [có đáp án] – P2 Xem thêm Tổng hợp 25 bài tập chia thừa kế [có đáp án] – P3
Trong cuộc sống, việc tranh chấp di sản thừa kế diễn ra rất nhiều và việc sử dụng di chúc để phân chia tài sản của người mất đã trở nên ngày càng phổ biến, tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp số tài sản đó được chia theo pháp luật vì người mất không kịp viết di chúc hoặc không muốn phận chia di sản theo di chúc. Tài sản của người chết để lại có thể được chia theo 2 cách, một là theo di chúc người đó để lại, hai là chia theo pháp luật. Trong trường hợp nếu giữa những người liên quan đến phần di sản để lại không thỏa thuận được thì cần phải có sự tham gia của Tòa án. Để hiểu rõ hơn về vấn đề chia thừa kế theo di chúc thì trong phạm vi bài viết dưới đây, Luật Rong Ba xin đưa ra các ý kiến đánh giá cũng như bình luận về vấn đề trên, hãy cùng chúng tôi theo dói nhé! Thừa kế là gì? Theo quy định của pháp luật hiện hành, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản của người đã mất cho người còn sống. Tài sản mà người đã mất để lại được gọi là di sản thừa kế. Người còn sống hay còn được gọi là người hưởng di sản thừa kế sẽ được hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản thừa kế tuỳ thuộc vào di chúc hoặc quy định của pháp luật trong trường hợp không có di chúc. Người được hưởng di chúc chỉ được hưởng di sản thừa kế sau khi người để lại di sản mất đi. Quyền thừa kế là gì? Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế, là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống. Thừa kế là một chế đinh pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản. Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng. Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác. Những người có quyền nhận di sản cố thể nhận hoặc không nhận di sản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối tượng của thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người đã chết để lại trong một số trường hợp người để lại tài sản có thể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản. Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã chết không thể chuyển cho những người thừa kế tiền cấp dưỡng… vì pháp luật quy định chỉ người đó mới có quyền được hưởng. Quy định của pháp luật về chia thừa kế theo di chúc Theo nguyên tắc, nếu người chết để lại di chúc thì tài sản được chia theo di chúc. Như vậy, luật thừa kế theo di chúc 2022 chính là thừa kế theo pháp luật và được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự 2015. Để người đọc có thể hiểu hơn về luật thừa kế tài sản, Luật Rong Ba xin đưa ra một số phân tích trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật như sau Theo Điều 624 Bộ Luật Dân sự hiện hành, di chúc được hiểu như sau Điều 624. Di chúc “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.” Tuy nhiên nếu là sự thể hiện về ý chí của người để lại tài sản thừa kế thì di chúc này sẽ không đảm bảo về mặt pháp lý và trở nên có hiệu lực. Để các chủ thể liên quan có thể được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua di chúc thì di chúc đó phải đảm bảo về tính hợp pháp, cụ thể Điều 630. Di chúc hợp pháp “1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây a Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọạ, cưỡng ép; b Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.” Trên cơ sở di chúc để lại, việc chia tài sản thừa kế theo di chúc sẽ được quy định lần lượt tại các Điều 644,643,645,646 của BLDS hiện hành Lưu ý Quy định trên không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015. Phân chia di sản theo di chúc Nếu việc phân chia đã được xác định trong di chúc thì việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo di chúc. – Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. – Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. – Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản. Nếu chia theo di chúc thì đương nhiên những người liên quan đến nội dung di chúc sẽ thừa hưởng tài sản. Tuy nhiên, Theo khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó – Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; – Con thành niên mà không có khả năng lao động. Tuy nhiên, để được nhận hưởng phần di sản trên thì người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc còn phải đáp ứng điều kiện sau – Không từ chối nhận di sản – Không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản Lưu ý Quy định trên không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015. chia thừa kế theo di chúc Những người được hưởng thừa kế Theo quy định tại Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2015, đối với trường hợp thừa kế theo di chúc thì người được hưởng thừa kế là người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản chỉ định rõ trong di chúc. Ngoài ra, Theo quy định Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Theo đó, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó + Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; + Con thành niên mà không có khả năng lao động. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó – Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; – Con thành niên mà không có khả năng lao động. Lưu ý Quy định trên không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015. Hiệu lực của di chúc – Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. – Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây + Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; + Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực. – Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. – Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. – Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 Di sản dùng vào việc thờ cúng – Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. – Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 Di tặng – Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. – Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. – Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về nội dung chia thừa kế theo di chúc. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về chia thừa kế theo di chúc và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. một cách nhanh chóng nhất. Xin cảm ơn!
Thừa kế là việc thực thi chuyển giao tài sản, lợi ích, nợ nần, các quyền, nghĩa vụ từ một người đã chết sang một cá nhân nào pháp luật hiện hành, thừa kế có hai trường hợp. Đó là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Mỗi trường hợp sẽ có những đặc điểm khác nhau. Trong bài viết này, Thủ tục thừa kế theo di chúc sẽ được nói rõ hơn để ai cũng có thể nắm Di chúc là gì?Có thể nói di chúc là yếu tố quan trọng trong trường hợp thừa kế này. Vậy di chúc là gì?Theo điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.” Người lập di chúcTheo điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định cụ thể về điều kiện của người lập di chúc như sau– Người thành niên minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;– Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc. Với điều kiện là cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di Hình thức của di chúcVề hình thức, di chúc có thể tạo lập thành văn bản hoặc di chúc miệng. Trong đó – Di chúc bằng văn bản bao gồmDi chúc bằng văn bản không có người làm chứng;Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;Di chúc bằng văn bản có công chứng;Di chúc bằng văn bản có chứng thực.– Di chúc bằng miệngTrong trường hợp tính mạng đang bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc bằng nhiên, nếu sau ba tháng mà người lập di chúc vẫn còn sống, minh mẫn thì di chúc miệng đó mặc nhiên bị huỷ Nội dung của di chúcNhìn chung, tuỳ vào mục đích cũng như tài sản của người lập di chúc mà nội dung di chúc sẽ khác nhau. Tuy nhiên phải đảm bảo các nội dung chủ yếu, đó làNgày, tháng, năm lập di chúc;Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;Di sản để lại và nơi có di ra, cần phải lưu ý thêmDi chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu;Nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc;Nếu có sự tẩy xoá trong di chúc thì người viết di chúc hoặc người làm chứng phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa thêm Di chúc là gì? Di chúc như thế nào là hợp pháp? Tư vấn di chúc miễn phí - Gọi ngay 2. Thừa kế theo di chúc là gì? Khái niệm Tiếp theo, cần tìm hiểu Thừa kế theo di chúc là gì? Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống; theo nguyện vọng, ý chí của người để lại di sản trước khi chết thể hiện qua di chúc. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế cá nhân, tổ chức và phân định tài sản; quyền tài sản và giao nghĩa vụ tài sản cho những người thừa kế. Trường hợp áp dụng thừa kế theo di chúc Từ khái niệm ở trên, có thể thấy rằng Thừa kế theo di chúc chỉ được áp dụng khi cá nhân trước khi mất có lập di chúc hợp pháp. 3. Người thừa kế theo di chúc Bất kể người nào mà được người lập di chúc có nguyện vọng để lại tài sản thì được gọi là người thừa kế theo di chúc. Trừ các trường hợp không được quyền hưởng Thừa kế theo quy định pháp luật Theo điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 – Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng; hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; – Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; – Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần; hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; – Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Những người sau đây vẫn được hưởng một phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động. 4. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc Cách phân chia di sản thừa kế theo di chúc Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Có ba trường hợp có thể xảy ra Nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc; trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó; hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản. Nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản. Thủ tục phân chia di sản thừa kế theo di chúc Bước 1 Khai nhận di sản thừa kế theo di chúc tại văn phòng công chứng. Kiểm tra tính hợp pháp của di chúc; các giấy tờ về tài sản; giấy tờ nhân thân của người lập di chúc; giấy tờ nhân thân của người thừa kế. Sau đó, Phòng công chứng tiến hành thủ tục niêm yết công khai về việc phân chia di sản theo di chúc. Nơi niêm yết là UBND xã phường nơi có tài sản hoặc nơi người chết cư trú cuối cùng; Nếu không có tranh chấp hoặc ý kiến phản đối của người thứ ba bất kỳ về việc phân chia di sản, Phòng công chứng tiến hành thủ tục khai nhận di sản theo nội dung của di chúc. Bước 2 Người thừa kế thực hiện các nghĩa vụ tài chính và đăng ký sang tên tài sản thừa kế Đối với tài sản là nhà đất Người thừa kế làm thủ tục sang tên tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất; Đối với các tài sản khác Người thừa kế nộp hồ sơ tại cơ quan cấp giấy phép và cơ quan thuế để tính thuế, lệ phí trước bạ sang tên. 5. Từ chối nhận di sản thừa kế theo di chúc Trong trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản thừa kế theo di chúc thì phải đảm bảo các điều kiện sau – Thứ nhất, Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản. Trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. – Thứ hai, Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến những người có liên quan. Bao gồm người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản. – Thứ ba, Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. 6. Một số lưu ý trong thừa kế theo di chúc Di sản thừa kế dùng vào việc thờ cúng Thứ nhất, Người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế. Nó được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; Nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc; hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế đó có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Thứ hai, nếu toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Di tặng Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. Người được di tặng bao gồm Là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế; Là cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng. Trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. 7. Dịch vụ thừa kế theo di chúc của Luật Hải Nguyễn Trên đây là toàn bộ 6 điều cơ bản về Thừa kế theo di chúc, được thể hiện trên các văn bản luật hiện hành. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng áp dụng chính xác những điều này. Thực tế cho thấy, Thừa kế là một trong những thủ tục khá phức tạp và tốn thời gian. Do đó để tiết kiệm công sức và thời gian, Quý khách có thể tham khảo dịch vụ tư vấn thừa kế tại công ty Luật Hải Nguyễn Dịch vụ di chúc trọn gói tư vấn, soạn thảo nội dung di chúc. Lưu trữ, công bố di chúc theo yêu cầu của khách hàng; Tư vấn di chúc hợp pháp, xác định người thừa kế, quyền và nghĩa vụ người thừa kế; Tư vấn cách thức phân chia tài sản thừa kế theo di chúc; Tư vấn thủ tục khai nhận di sản thừa kế, xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế; Tư vấn thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế theo di chúc; Tư vấn, giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc. Xem thêm Tư vấn Luật thừa kế tại TP. HCM tại đây. 8. Luật Hải Nguyễn cam kết Tư vấn Thừa kế miễn phí 100%. Ngoài cước phí điện thoại, Quý khách sẽ không phải trả thêm bất kì chi phí tư vấn nào khác. Được tư vấn tận tình – tận tâm – chi tiết nhất. Đội ngũ Luật sư – Chuyên viên pháp lý được đào tạo chuyên môn cao; được rèn luyện qua nhiều lần xử lý hồ sơ khó. Chúng tôi tự tin mang đến những lời tư vấn chuyên sâu nhất, thực tế nhất. Giá thành dịch vụ tại Luật Hải Nguyễn luôn hợp lý nhất. Quý khách sẽ nhận được nhiều hơn những gì phải bỏ ra tại công ty chúng tôi. Liên hệ hotline 0901485754
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự BLDS năm 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người hưởng thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc…Như vậy, có thể thấy, mặc dù đã có di chúc nhưng di sản thừa kế vẫn có thể được chia theo pháp luật trong các trường hợp sau1/ Di chúc không hợp phápĐiều 630 BLDS nêu rõ, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;- Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái quy định của luật Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải lập thành văn bản, được cha, mẹ… đồng ý; di chúc của người không biết chữ phải có công chứng…Di chúc phải lập bằng văn bản theo Điều 627 BLDS, có thể có người làm chứng hoặc có công chứng, chứng thực. Nếu không thể lập được bằng văn bản thì có thể di chúc đó, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện sau đây- Người để lại di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng;- Ngay sau khi người để lại di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ;- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người này thể hiện ý chí cuối cùng thì phải công chứng hoặc chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm thêmChỉ khi đáp ứng được các điều kiện nêu trên, di chúc mới được coi là hợp pháp. Ngược lại, nếu thiếu một trong số đó, di chúc sẽ không được coi là hợp pháp và di sản sẽ được chia theo pháp di chúc có được chia thừa kế theo pháp luật không? Ảnh minh họa2/ Người hưởng di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúcTheo quy định tại Điều 613 BLDS, người thừa kế là cá nhân- Phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế;- Đã sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa đó, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Điều 611 BLDS.Ngoài ra, di chúc sẽ không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần nếu rơi vào một trong các trường hợp nêu tại Điều 643 BLDS như- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa vậy, tại thời điểm người hưởng thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc cơ quan, tổ chức được nhận thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì di sản sẽ được chia theo pháp thêm Cách chia thừa kế nhà đất do cha mẹ để lại mới nhất3/ Người hưởng di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sảnNhững người quy định tại Điều 621 BLDS không được hưởng di sản- Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;- Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;- Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;- Có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì người hưởng di sản sẽ không được hưởng theo di chúc trừ trường hợp người để lại di sản đã biết về hành vi của những người này nhưng vẫn cho họ hưởng theo di ra, những người được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng từ chối nhận di sản thì di sản sẽ được chia theo pháp thời, nếu một phần di sản theo di chúc thuộc các trường hợp nêu trên thì phần di sản đó cũng được chia theo pháp tóm lại, dù có di chúc nhưng di sản vẫn có thể được chia theo pháp luật nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên. Để tìm hiểu thêm các quy định về thừa kế theo pháp luật, độc giả có thể theo dõi thêm tại đây>> Chi tiết cách chia thừa kế theo pháp luật mới nhất
chia thừa kế theo di chúc